Mặc dù hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh rõ ràng về hoạt động M&A (sáp nhập và mua lại). Tuy nhiên, việc sáp nhập và mua lại này đã được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành theo từng lĩnh vực mà văn bản pháp luật đó điều chỉnh, đó là pháp luật Đầu tư và pháp luật Doanh Nghiệp

Mặc dù hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh rõ ràng về hoạt động M&A (sáp nhập và mua lại). Tuy nhiên, việc sáp nhập và mua lại này đã được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành theo từng lĩnh vực mà văn bản pháp luật đó điều chỉnh, đó là pháp luật Đầu tư và pháp luật Doanh Nghiệp

Mặc dù hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh rõ ràng về hoạt động M&A (sáp nhập và mua lại). Tuy nhiên, việc sáp nhập và mua lại này đã được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành theo từng lĩnh vực mà văn bản pháp luật đó điều chỉnh, đó là pháp luật Đầu tư và pháp luật Doanh Nghiệp.
SÁP NHẬP
Trên thực tế, bản chất của việc “sáp nhập” là tập hợp các Công ty về dưới một “ngọn cờ” để mạnh hơn, vững vàng hơn và theo đó việc tập hợp sẽ được thực hiện theo các cách thức khác nhau.
Trong khi Luật Đầu tư 2005, Điều 21 chỉ quy định một hình thức “sáp nhập” thì Điều 107 và Điều 108 Luật Doanh nghiệp đã định nghĩa: Hợp nhất doanh nghiệp là: “Hai hay một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất”. Còn sáp nhập là: “Một hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”. Điểm khác nhau giữa hai hình thức sáp nhập và hợp nhất là tư cách Pháp lý của các Công ty sau giao dịch “M&A” (sáp nhập và mua lại), việc “hợp nhất” sẽ dẫn đến việc chấm dứt tư cách của tất cả các Công ty bị hợp nhất, còn “sáp nhập” chỉ dẫn đến việc chấm dứt tư cách của Công ty bị sáp nhập, tư cách của Công ty nhận sáp nhập vẫn tồn tại.  
“M&A” được thực hiện thông qua “hợp nhất” hoặc “sáp nhập” Doanh nghiệp thực chất là giao dịch để hai hay nhiều Doanh nghiệp tập hợp lại bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền nghĩa vụ vào một một Doanh nghiệp khác. Các bên thông qua hợp đồng hợp nhất hoặc sáp nhập để phải xác định các điều kiện hợp nhất, sáp nhập, phương án sử dụng lao động, thời hạn thủ tục và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của Công ty bị hợp nhất, sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của Công ty hợp nhất, sáp nhập. Sau đó các bên thông qua Điều lệ Công ty, tiến hành thủ tục đăng ký cấp “Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh” (GCNĐKKD) theo Luật Doanh nghiệp hoặc đăng ký cấp “Giấy Chứng nhận đầu tư đồng thời là Chứng nhận Đăng ký kinh doanh” (GCNĐT) theo Luật Đầu tư cho doanh nghiệp mới. Quy trình M&A hoàn tất.
MUA LẠI
Trong giao dịch M&A (sáp nhập và mua lại), nếu “sáp nhập” buộc các bên vào một “giao dịch bình đẳng” thì “mua lại” sẽ khó có sự “bình đẳng” thường mang mục đích thôn tính kiểu “cá lớn nuốt cá bé”. Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư 2005 quy định “nhà đầu có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan”.
Như vậy trong giao dịch “mua lại”, nhà đầu tư có thể thực hiện theo hai cách thức:  (i) nhận chuyển nhượng vốn, mua lại phần vốn góp, mua cổ phần; và (ii) mua lại Doanh nghiệp.
Như vậy, theo hình thức “nhận chuyển nhượng vốn” “mua lại phần vốn góp” (trong Công ty TNHH) hoặc “mua cổ phần” (trong Công ty Cổ phần) về bản chất thì vẫn là giao dịch chuyển nhượng vốn đã được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005. Tuỳ theo điều kiện và mức độ cần thiết của việc chi phối Công ty, bên mua lại có thể nhận chuyển nhượng đa số hoặc toàn bộ phần vốn góp hoặc cổ phần trong Công ty bị mua lại. 
M&A dường như trở thành một cụm từ được phát âm cùng nhau, cùng nghĩa với nhau, tuy nhiên trên thực tế chúng có những điểm khác biệt. Nếu một công ty chiếm lĩnh hoàn toàn một công ty khác và đóng vai trò người chủ sở hữu mới thì được gọi là mua lại. Trên góc độ pháp lý, công ty bị mua lại sẽ ngừng hoạt động, công ty tiến hành mua lại “nuốt” trọn hoạt động kinh doanh của công ty kia, tuy nhiên cổ phiếu của công ty đi mua lại vẫn được giao dịch bình thường. Sáp nhập, hiểu theo nghĩa giản dị nhất, là việc hai công ty, thường là có cùng quy mô, thống nhất sẽ cùng tham gia hợp nhất với nhau và trở thành một doanh nghiệp mới với tên gọi mới (hai cái tên cũ sẽ không còn tồn tại). 
Một thương vụ mua lại cũng được khoác lên cái tên sáp nhập nếu như ban giám đốc, điển hình là CEO của các bên thỏa thuận sẽ ngồi cùng với nhau để mang lại lợi ích lớn nhất có thể cho cả hai bên. Ngược lại, nếu như tính “hữu hảo” không tồn tại - khi mà đối tượng bị mua lại không muốn, thậm chí thực hiện các kỹ thuật tài chính để chống lại, thì nó hoàn toàn mang hình ảnh của một thương vụ mua lại. 
Như vậy, để “điểm mặt chỉ tên” một thương vụ là sáp nhập hay mua lại, cần phải xem đến tính chất hợp tác hay thù địch giữa hai bên. Nói cách khác, nó chính là cách ban giám đốc, người lao động và cổ đông của công ty bị mua lại nhận thức về mỗi thương vụ. 
                                  


1253    


Bình luận của bạn.

Đôi chút về hãng luật IMC

Đơn vị thành viên

Văn phòng công chứng Vĩnh Xuân